Nhà Điểu học Sibley và Ahlquist cho rằng trên thế giới có khoảng 96-100 loài chim yến và xác định có 16 loài chim yến nhỏ giống Collocalia nhưng chỉ có 3 loài chim yến cho tổ ăn được (Edible-nest):
-         Chim yến tổ trắng Collocalia Fuciphaga (Thunberg, 1812).
-         Chim yến Ấn Độ Collocalia unicolor (Jerdon, 1840).
-         Chim yến tổ đen Collocalia maxima (Hume, 1878).
   1.1.Chim yến tổ trắngChim yến
            Chim yến tổ trắng C.fuciphaga chỉ có vùng Đông Nam Á, không có ở vùng nào khác trên thế giới.
            Chim làm tổ hoàn toàn bằng nước bọt của chúng nên chất lượng và giá trị thương mại cao hơn tổ của các loài chim yến khác.
            Chim có thân dài 12-14 cm nhỏ hơn các loài yến khác, ở quần thể Indonesia lông chim ở hông thường đồng màu với lông ở lưng, ở quần thể Việt Nam lông ngực xám, lông lưng có mảng sáng hơn, lưng không có khoảng trắng, đuôi bầu, sải cánh dài 12-15 cm, khi bay đập cánh toàn bộ và có tiếng kêu đặc trưng phát sóng siêu âm.
          Trọng lượng cơ thể chim ở các tỉnh phía Nam Khánh Hòa nặng 13-17 gr/con, ở các tỉnh phía Bắc Khánh Hòa nặng 15-20 gr/con, ở Malaysia chỉ nặng 12 gr/con. Tổ nặng 8-12 gr.
       Chim yến tổ trắng ở Việt Nam sinh sản 2 lứa/năm, ởIndonesia,Malaysiasinh sản 2/4 lứa/năm.
       Chim yến có thể sống thành bầy đàn hoặc sống một mình. Trong hang yến hay nhà yến có thể có nhiều đàn sống chung với nhau.
      Tại nơi trú ở, chim thích chỗ tối độ sáng 0,2 Lux, độ ẩm cao 80-95% phù hợp là 85%, nnhiệt độ 28oC và thích chơi đùa với nước.
      Chim yến sinh sống ở các vùng chung quanh hải đảo của các vùng biển các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Borneo, Tây Nam Philippines, Campuchia và được chia thành 8 phân loại, phân bố sống ở các nước như sau: 
Tên phân loài Nơi sống
C.fuciphaga Java, Sumatra
Fuciphaga  
C.fuciphaga micans Timor, Lesser Sundas, Sumba và Sawu của Indonesia
C.fuciphaga Floré và Lesser Sundas của Indonesia
Dommemani  
C.fuciphaga perplexa Đông Bắc Borneo
C.fuciphaga vestica Borneo, Sumatra
C.fuciphaga Malaysaia, Singapore
Amechana  
C.fuciphaga Nicobar, Andaman Tây Thái Lan
inexpectata  
C.fuciphaga Đông Thái Lan , Việt Nam, Đông Nam Philippines, Camphuchia và Đông Nam đảo Hải Nam Trung Quốc.
 germani  
 
           Việc phân chia 8 phân loài này của loài chim yến tổ trắng, các nhà điểu học dựa trên từng vùng địa lý nơi chim sinh sống như phân loài C.fuciphaga germaani là bắt được ở Việt Nam, Thái Lan nhưng bắt được ở Malaysia là C.fuciphaga amechana.
         Ở Việt Nam, chim yến tổ trắng làm tổ ở các đảo trong vịnh Hạ Long, Quảng Bình, Đà nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phan Rang, Côn Đảo và Rạch Giá.
1.2.Chim yến tổ đen
       Chim yến tổ đen C.maxima cho tổ có khoảng 90% là nước bọt và 10% là lông cơ thể của chúng, giá trị thấp hơn tổ yến trắng 30-40%, phải dùng kỹ thuật ngâm tách sợi lông chim ra và dùng kỹ thuật sấy lạnh làm khô các sợi nước bọt lại để đóng thành tổ yến.
       Chim có lông ở hông sáng hơn lông ở lưng và có một hàng lông ở mặt trong và ngoài chân,trọng lượng 17-22gr/con.Chim phân bố ở khu vực hẹp, sinh sống ở Malaysia, Indonesia, Thái Lan và một ít ở Khánh Hòa Việt Nam.
1.3 Chim yến Ấn Độ
       Chim yến Ấn Độ C.unicolor cho tổ yến bằng nước bọt gắn với các sợi cỏ,rêu và lông của chúng, tổ có khoảng 40-50% là nước bọt còn lại là sợi cỏ,rêu và lông, giá trị thấp hơn yến tổ trắng khỏang 70-80%,phải dùng kỹ thuật ngăm tách tạp chất rồi dùng kỹ thuật sấy lạnh làm khô các sợi nước bọt lại để thành tổ yến.
        Chim có lông ở hông đồng màu với lông ở lưng, đuôi chẻ nông, trọng lượng nhỏ 11 gr/con,chỉ có ở Ấn Độ và Sirlanca.
        Các loài chim yến có đặc điểm là tự điều hòa thân nhiệt thích nghi với môi trường. Sáng sớm trước khi rời khỏi hang hay nhà trú,chim khỏi dộng để cho thân nhiệt tăng rồi mới bay khỏi hang kiếm mồi. Chiều về trước khi bay vào hang hay nhà trú, chim lượn vài vòng ở sân để tự giảm thân nhiệt.